NGUYÊN TẮC KẾ TOÁN CÁC KHOẢN ĐẦU TƯ VÀO ĐƠN VỊ KHÁC
1. Các khoản đầu tư vào đơn vị khác gồm các khoản đầu tư vào công ty
con, công ty liên doanh, công ty liên kết và các khoản đầu tư góp vốn khác với
mục đích nắm giữ lâu dài. Việc đầu tư có thể thực hiện dưới các hình thức:
a) Đầu tư dưới hình thức góp vốn vào đơn vị khác (do bên được đầu tư huy
động vốn): Theo hình thức này, tài sản của bên góp vốn được ghi nhận vào Báo
cáo tình hình tài chính của bên nhận vốn góp;
b) Đầu tư dưới hình thức mua lại phần vốn góp tại đơn vị khác (mua lại
phần vốn của chủ sở hữu khác): Theo hình thức này, tài sản của bên mua (bên đầu
tư, bên nhận chuyển nhượng vốn góp) được chuyển cho bên bán (bên chuyển nhượng
vốn góp) mà không được ghi nhận vào Báo cáo tình hình tài chính của bên được
đầu tư.
2. Khi thực hiện đầu tư bằng tài sản phi tiền tệ, nhà đầu tư phải căn cứ
vào hình thức đầu tư để áp dụng phương pháp kế toán một cách phù hợp, cụ thể:
b) Nếu đầu tư dưới hình thức mua lại phần vốn góp của đơn vị khác và
thanh toán cho bên chuyển nhượng vốn bằng tài sản phi tiền tệ:
- Nếu tài sản phi tiền tệ dùng để thanh toán là hàng tồn kho, nhà đầu tư
phải kế toán như giao dịch bán hàng tồn kho dưới hình thức hàng đổi hàng (ghi
nhận doanh thu, giá vốn của hàng tồn kho mang đi trao đổi lấy phần vốn được mua);
- Nếu tài sản phi tiền
tệ dùng để thanh toán là TSCĐ, BĐSĐT, nhà đầu tư phải kế toán như giao dịch
thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT (ghi nhận doanh thu, thu nhập khác, chi phí
khác...);
- Nếu tài sản dùng để thanh toán là các công cụ vốn (cổ phiếu) hoặc công
cụ nợ (trái phiếu, các
khoản phải thu...), nhà đầu tư phải kế toán như giao dịch thanh lý nhượng bán
các khoản đầu tư tài chính (ghi nhận lãi, lỗ vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài chính).
3. Giá phí các khoản đầu tư được phản ánh theo giá gốc, bao gồm giá mua cộng (+) các chi phí liên
quan trực tiếp đến việc đầu tư (nếu có), như: Chi phí giao dịch, môi giới, tư
vấn, kiểm toán, lệ phí, thuế và phí ngân hàng... Riêng trường hợp doanh nghiệp
vay vốn để đầu tư vào đơn vị khác thì chi phí lãi vay được ghi nhận vào chi phí
tài chính mà không được vốn hóa. Trường hợp đầu tư bằng tài sản phi tiền tệ,
giá phí khoản đầu tư được ghi nhận theo giá trị hợp lý của tài sản phi tiền tệ
tại thời điểm phát sinh.
4. Doanh nghiệp phải mở sổ chi tiết theo dõi khoản đầu tư vào từng công
ty con, công ty liên doanh, liên kết và từng khoản đầu tư vào đơn vị khác. Thời
điểm ghi nhận các khoản đầu tư vào đơn vị khác là thời điểm doanh nghiệp chính
thức có quyền sở hữu, cụ thể như sau:
- Chứng khoán niêm yết được ghi nhận tại thời điểm khớp lệnh (T+0);
- Chứng khoán chưa niêm yết, các khoản đầu tư dưới hình thức khác được
ghi nhận tại thời điểm chính thức có quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.
5. Doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản cổ tức, lợi nhuận được chia vào Báo cáo tài chính
riêng của nhà đầu tư tại thời điểm được quyền nhận cổ tức, lợi nhuận. Đối với
đơn vị đã đăng ký, lưu ký tập trung tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng
khoán Việt Nam thì thời điểm nhà đầu tư được quyền nhận cổ tức là ngày đăng ký
cuối cùng. Đối với các đơn vị còn lại thì thời điểm nhà đầu tư được quyền nhận
cổ tức, lợi nhuận được xác định theo quy định của
Luật doanh nghiệp, Điều lệ của doanh nghiệp và pháp luật có liên quan, cổ tức, lợi nhuận được chia trong một số trường hợp được hạch
toán như sau:
5.1. Đối với bên nhận đầu tư:
a) Bên nhận đầu tư phải ghi nhận khoản phải trả về cổ tức, lợi nhuận tại
thời điểm không có quyền từ chối chi trả cổ tức, lợi nhuận. Trong đó:
- Đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về chứng
khoán thì thời điểm bên nhận đầu tư không có quyền từ chối chi trả cổ tức được căn cứ theo quy định của pháp luật về
chứng khoán.
- Đối với các doanh nghiệp còn lại thì thời điểm bên nhận đầu tư không
có quyền từ chối chi trả cổ tức được căn cứ theo quy định của Luật doanh
nghiệp, Điều lệ của doanh
nghiệp.
b) Về nguyên tắc hạch toán các khoản cổ tức, lợi nhuận phải trả:
- Trường hợp cổ tức, lợi nhuận được chia bằng tiền hoặc bằng tài sản phi tiền tệ thì bên
nhận đầu tư ghi giảm lợi nhuận sau thuế chưa phân phối và ghi tăng khoản phải
trả về cổ tức, lợi nhuận.
- Trường hợp đơn vị nhận đầu tư phát hành cổ phiếu để trả cổ tức hoặc
phân phối lợi nhuận cho các chủ sở hữu hoặc các trường hợp sử dụng vốn khác của
chủ sở hữu, các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu và các nguồn khác thuộc vốn chủ sở hữu
để để tăng thêm hoặc bổ sung vốn điều lệ thì doanh nghiệp ghi giảm lợi nhuận
sau thuế chưa phân phối, các nguồn thuộc vốn chủ sở hữu và ghi tăng vốn khác khi phát hành cổ phiếu, phân phối lợi nhuận. Khi được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp ghi giảm vốn khác và ghi tăng vốn góp của
chủ sở hữu.
Doanh nghiệp phải trình bày trên thuyết minh Báo cáo tài chính đối với trường hợp tại thời
điểm kết thúc kỳ kế toán doanh nghiệp đang thực hiện hoặc đã kết thúc các giao
dịch tăng thêm hoặc bổ sung vốn điều lệ nhưng chưa nhận được Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp để ghi tăng vốn góp của chủ sở hữu trong báo cáo tài
chính.
5.2. Đối với bên đi đầu tư:
a) Trường hợp cổ tức, lợi nhuận được chia bằng tiền:
- Thời điểm bên đi đầu tư ghi nhận khoản phải thu về cổ tức được chia
bằng tiền là ngày đăng ký cuối cùng (đối với đơn vị nhận đầu tư là đơn vị đã
đăng ký, lưu ký tập trung tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam) hoặc ghi nhận khoản
phải thu về cổ tức, lợi nhuận tại ngày được quyền nhận cổ tức, lợi nhuận (đối
với đơn vị nhận đầu tư là các đơn vị còn lại). Trong đó:
+ Cổ tức, lợi nhuận được chia bằng tiền cho giai đoạn sau ngày đầu tư
được hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính;
+ Cổ tức, lợi nhuận
được chia bằng tiền cho giai đoạn trước ngày đầu tư không được hạch toán vào
doanh thu hoạt động tài chính mà hạch toán giảm giá trị khoản đầu tư.
b) Trường hợp đơn vị nhận đầu tư trả cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phân phối
lợi nhuận cho các chủ sở hữu dưới hình thức sử dụng vốn khác của chủ sở hữu, các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận
sau thuế chưa phân phối để tăng thêm hoặc bổ sung vốn điều lệ thì nhà đầu tư chỉ theo dõi số lượng cổ phiếu tăng thêm hoặc giá trị vốn điều lệ tăng thêm
của doanh nghiệp tại đơn vị nhận đầu tư trên thuyết minh Báo cáo tài chính,
không ghi nhận tăng giá trị khoản đầu tư vào doanh thu hoạt động tài chính.
c) Đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp nhà nước, việc kế toán các khoản
cổ tức, lợi nhuận được chia khi đơn vị nhận đầu tư trả cổ tức bằng cổ phiếu
hoặc phân phối lợi nhuận cho các chủ sở hữu dưới hình thức sử dụng vốn khác của
chủ sở hữu, các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối để
tăng thêm hoặc bổ sung vốn điều lệ của doanh nghiệp
tại đơn vị nhận đầu tư nếu có quy định khác với nguyên tắc quy định tại điểm b
khoản 5.2 tài khoản này thì được thực hiện theo quy định của pháp luật đối với
doanh nghiệp nhà nước.
7. Doanh nghiệp không được phân loại lại khoản đầu tư vào công ty con,
công ty liên doanh, liên kết thành chứng khoán kinh doanh trừ khi đã thực sự
thanh lý, nhượng bán khoản đầu tư, dẫn đến mất quyền kiểm soát đối với công ty
con, mất quyền đồng kiểm soát đối với công ty liên doanh và không còn ảnh hưởng
đáng kể đối với công ty liên kết.
8. Trường hợp quyền kiểm soát, đồng kiểm soát, ảnh hưởng đáng kể là tạm
thời thì phải được xác định tại thời điểm ghi nhận ban đầu khoản đầu tư. Trong
trường hợp này, doanh nghiệp ghi nhận khoản đầu tư là đầu tư góp vốn vào đơn vị khác hoặc chứng khoán kinh doanh,
không ghi nhận khoản đầu
tư vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết.
9. Khi lập Báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải xác định giá trị tổn
thất của khoản đầu tư vào đơn vị khác theo hướng dẫn tại Tài khoản 229 - Dự
phòng tổn thất tài sản để trích lập dự phòng tổn thất đầu tư.
